[../../include/top.htm]
[../../include/left.htm]

 

Bệnh tả lộ ra vấn đề thông tin

Ykhoanet.com

Đợt dịch tiêu chảy cấp tính do vi trùng tả bộc phát từ ngày 23/10 cho đến nay đã 3 tuần.  Lúc đầu thông tin về bệnh và định danh bệnh không đầy đủ nên ít người quan tâm, nhưng một thời gian sau, khi có thêm thông tin thì lại xảy ra tình trạng “nhiễu thông tin”.  Thật vậy, thời gian gần đây có quá nhiều thông tin mâu thuẫn nhau được lưu truyền trong hệ thống truyền thông.  Tình trạng mâu thuẫn thông tin chẳng những làm cho công chúng hoang mang, mà giới chuyên môn cũng lúng túng, đến nỗi có một chuyên gia kêu lên “Cần người phát ngôn trước công chúng”!

1. Bệnh gì? 

Thông tin: Thoạt đầu, giới truyền thông gọi bệnh là “Dịch tiêu chảy cấp”.  Thế rồi vài ngày sau, bệnh được gắn thêm tính từ “nguy hiểm” thành “tiêu chảy cấp nguy hiểm”.  Nhưng cho đến nay, thì tên bệnh thành “dịch tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả”.  Khi được phóng viên hỏi, các quan chức y tế nước ta lúng túng nói “Dùng từ tiêu chảy cấp trước hay tả trước thì cũng vậy thôi”!  Từ đó, theo họ, cảnh báo tiêu chảy và tả thì biện pháp phòng chống như nhau!  

Sự thật: Theo qui ước y khoa và của Tổ chức Y tế Thế giới [1], dù chỉ có 1 trường hợp bệnh nhân nhiễm vi khuẩn tả V. cholerae, bệnh có thể gọi là “cholera”, tức bệnh dịch tả hay bệnh tả.

2. Bệnh tả mới xuất hiện ở nước ta? 

Thông tin: Ngày 1/11 Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết “trong ba năm trở lại đây nước ta không phát hiện trường hợp nào mắc bệnh tiêu chảy cấp”.  Đến ngày 5/11, Tiến sĩ Nga thay đổi ý kiến và cho biết: “còn bệnh tiêu chảy cấp, mỗi tháng VN có trên 70.000 người mắc bệnh.”

Sự thật: Bệnh tiêu chảy và tả không mới gì ở nước ta.  Theo y văn quốc tế (do người Pháp ghi lại), năm 1850, một trận dịch tả xảy ra ở miền Trung và Nam nước ta làm cho hơn 2 triệu người mắc bệnh.  Năm 1885, một trận dịch lớn khác bộc phát làm cho nhiều lính Pháp mắc bệnh; và trong số lính mắc bệnh tỉ lệ tử vong lên đến 50%!  Toàn quyền Paul Doumer cũng từng bị chết vì bệnh tả.  Từ năm 1910 đến 1930, trung bình mỗi năm có khoảng 5000 đến 30.000 trường hợp bệnh tả được ghi nhận.  Năm 1961, một nạn dịch tả lớn bộc phát ở Nam Dương, và vi khuẩn V. cholerae O1 lan truyền sang đến miền Nam nước ta làm cho 20.009 người mắc bệnh và 821 người chết.  Từ năm 1979 đến 1996, trung bình mỗi năm có khoảng 3000 trường hợp bệnh tả được báo cáo (xem Bảng 1).  Phần lớn những trường hợp này xảy ra ở miền Trung và Nam, đặc biệt là các tỉnh phía nam Trung phần như Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang, v.v… Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu.

Bảng 1. Số trường hợp (ca) bệnh tả ở Việt Nam từ 1979 đến 1996 phân chia theo vùng

 

Năm

Số trường hợp mắc bệnh theo vùng

Tỉ lệ tử vong (%)

Bắc

Trung

Nam

Cao Nguyên

1979

0

0

2017

0

9,6

1980

1685

0

6501

0

5,2

1981

442

1613

708

0

3,2

1982

0

126

1686

0

3,1

1983

78

3571

3750

0

2,0

1984

0

114

149

0

1,1

1985

381

3271

702

0

1,8

1986

1622

3147

832

0

1,2

1987

1018

218

833

0

1,1

1988

1389

916

224

12

1,6

1989

1

0

129

0

0,0

1990

0

798

1161

0

0,8

1991

3

142

0

0

2,1

1992

12

1849

649

0

0,5

1993

0

2684

776

0

0,3

1994

216

1822

626

1459

1,4

1995

814

3494

1327

453

0,7

1996

149

324

149

8

0,2

Nguồn: Daksgaard A, et al. J Clin Microbiol 1999;37(3):734-741

 

Trong thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385 trường hợp bệnh tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam miền Trung, 27% ở các bờ biển phía bắc miền Trung.  Tỉ lệ phát sinh là 2,7 trên 100.000 dân số. Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu [2].

 

3.  Có bao nhiêu người bị nhiễm vi khuẩn tả? 

Thông tin: Ngày 9/11 Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết trong số các ca mắc tiêu chảy cấp thì 15% bệnh nhân có vi khuẩn tả.  Con số này được Bộ trưởng lặp đi lặp lại khá nhiều lần. 

Sự thật:  Nhưng trong thực tế thì con số này không đúng.  Ngày 9/11 TS Nguyễn Huy Nga cho biết “Thực tế hiện nay, trong hơn môt nghìn bệnh nhân nhập viện, chỉ có 159 người được xét nghiệm và tìm thấy vi khuẩn tả, chiếm 11,53% tổng số bệnh nhân tiêu chảy cấp.”  Đến ngày 14/11, báo Tiền Phong dẫn nguồn từ Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga cho biết trong số 1.803, trong đó có 231 người (tức 12,8%) dương tính với phẩy khuẩn tả.  Từ ngày bệnh bộc phát, chưa bao giờ con số bệnh nhân nhiễm vi khuẩn tả lên đến con số 15%. 

4.  Vi khuẩn tả không có trong mắm tôm?  

Thông tin:  Ngay từ khi bệnh bộc phát, các quan chức khẳng định mắm tôm là nguồn gây bệnh. Thật vậy, Thứ trưởng Trịnh Quân Huấn khẳng định đây vẫn là nguồn gây bệnh nhưng do kỹ thuật của Việt Nam chưa phân lập được nên không thể thấy sự tồn tại của phẩy khuẩn tả trong thực phẩm này. Nhưng ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, “việc chưa phát hiện thấy phẩy khuẩn tả trong mắm tôm không phải là do kỹ thuật của chúng ta không hiện đại mà do khả năng tồn tại của khuẩn phẩy dạng tả trong các chất thải hay thực phẩm đều khác nhau (có thể là vài ngày cho đến vài tuần).  Trong khi xét nghiệm mắm tôm thường phải sau từ 1-2 ngày, khi đó đã quá muộn để tìm thấy phẩy khuẩn tả.”  Hai ông tiến sĩ mâu thuẫn nhau!

Sự thật:  Tính đến nay các cơ quan chức năng đã xét nghiệm 138 mẫu mắm tôm và tất cả đều không có vi khuẩn V. chloerae.  Chúng tôi e rằng giải thích của cả hai ông tiến sĩ đều không thuyết phục.  Lí do không có vi khuẩn tả trong mắm tôm, không phải là thời gian tồn tại, mà chính là nồng độ muối trong mắm tôm cao nên vi khuẩn không sống và phát triển được.  Sự thật này đã được “chứng minh” qua ít nhất là 5 nghiên cứu trên thế giới.  Không nên tốn tiền đi tìm vi khuẩn trong mắm tôm (không ai đi tìm cái không có được)! 

5.  Vắcxin: có hay không? 

Thông tin: BS Trần Tịnh Hiền, Phó giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh cho biết “vắc-xin ngừa tả hầu như chưa có trong thực tế.” 

Sự thật:  Theo Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện vệ sinh dịch tễ, “hiện nay Phòng dịch vụ của Viện có bán vắc xin tả đường uống cho những người có nhu cầu”.  Ghé qua trang web của Công ti sinh phẩm, chúng tôi thấy lời dẫn: “Vắcxin [tả] dùng ở các địa phương có dịch tả lưu hành thường xuyên. Sử dụng cho mọi lứa tuổi.” 

Nhưng Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga thì nói “Hệ thống tiêm chủng Việt Nam không có vắc-xin dịch vụ”.  Chúng tôi nghĩ ông muốn nói: “Hệ thống tiêm chủng Việt Nam không có dịch vụ tiêm chủng vắc-xin”.  Nếu thế thì hệ thống tiêm chủng này có chức năng là gì, và sản xuất ra vắc-xin để làm gì?

6.  Vắcxin có phải là sản phẩm của Việt Nam? 

Thông tin: Theo phát biểu của một chuyên gia trên VietnamnetViệt Nam là nước duy nhất ngoài nước Mỹ sản xuất được vắc-xin tả uống (không phải tiêm chích) trên thế giới.  Vắc-xin tả uống là tâm huyết của nhiều giáo sư đầu ngành của Việt Nam về sản xuất vắc-xin trong đó có cố GS. Đặng Đức Trạch”.  Câu này hàm ý nói vắc-xin là sản phẩm của Việt Nam sáng chế ra. 

Sự thật: Thật ra, cần phải công bằng ở đây: vắc-xin này sản xuất ở Việt Nam, nhưng với sự chuyển giao công nghệ từ Thụy Điển.  Viện vắcxin quốc tế (ISI) ghi rõ như thế: “The oral cholera WC vaccine was developed in Vietnam through technology transfer from Gothenburg University in Sweden.”  Đạo đức khoa học yêu cầu chúng ta phải ghi công trạng của đồng nghiệp nước ngoài trong việc phát triển vắc-xin này, vì không có họ và công nghệ của Thụy Điển thì chưa chắc chúng ta có vắc-xin “made in Vietnam” như hiện nay.  Cũng cần phải nói thêm rằng gần 100% các công trình nghiên cứu dịch tễ học quan trọng đều có sự giúp đỡ, và cộng tác từ các đồng nghiệp nước ngoài, nhiều công trình họ là những người chủ trì; không nên dành công trạng về phần Việt Nam nếu đóng góp của chúng ta còn quá khiêm tốn.

7.  Vắcxin: giá bao nhiêu? 

Thông tin: Theo Hà Nội Mới thì “Giá thành của 2 liều vaccin (đủ để gây miễn dịch cho mỗi người) được Nhà nước qui định là 6.500 đồng” (tức khoảng 0,4 USD).  Nhưng theo Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, “Loại vắc xin này được bán với giá 26.000đồng/liều”.  Còn BS Phan Văn Nghiệm (Thành phố Hồ Chí Minh) thì cho rằng “hiện có vắc-xin tiêm ngừa tả có giá 100.000 đồng/liều, nhưng chưa phổ biến tới nhiều người dân. Nếu phải đồng loạt tiêm phòng cho toàn dân thì chi phí không nhỏ”. 

Sự thật:  Chúng tôi vẫn không biết giá vắcxin là bao nhiêu.  Nhưng theo ít nhất là một nguồn tin từ nước ngoài đã sử dụng vắc-xin do Việt Nam sản xuất thì giá thành là 0,20 USD cho mỗi liều.  (Trials of a cholera vaccine manufactured in Vietnam at a cost of only about US 20 cents a dose have produced encouraging results, especially for children, according to a press statement from the United Nations' World Health Organisation on Friday, 8 February.)

Về hiệu quả, tất nhiên tiêm vắcxin chi phí không thể nhỏ, nhưng vấn đề không phải là “nhỏ” hay “lớn” (thật ra, phải nói là “cao” hay “thấp” mới đúng); vấn đề là có hiệu quả kinh tế hay không.  Chúng tôi đã chứng minh qua tính toán cho thấy tiêm vắcxin ở các đối tượng có nguy cơ cao có thể đem lại lợi ích kinh tế lớn cho người dân và Nhà nước.

Năm 1998, một nghiên cứu tiêm chủng từ Việt Nam cho thấy chi phí tiêm 2 liều vắc-xin cho 118.555 người là 105.447 USD.  Như vậy tính trung bình, chi phí tiêm chủng cho một người là khoảng 0,9 USD.  So với số trường hợp bệnh tả được ngăn ngừa và chi phí bệnh viện nếu mắc bệnh thì một chiến dịch tiêm chủng như thế vừa rất có hiệu quả kinh tế và y tế [3] vừa an toàn [4].

8.  Vắcxin: hiệu quả ra sao?  

Thông tin: Phát biểu trên Vietnamnet, một chuyên gia thuộc Viện Pasteur TPHCM cho biết “Vắc-xin tả uống của Việt Nam đã được đánh giá lâm sàng trên qui mô cực lớn với hàng trăm ngàn người được thử thuốc và có kết quả miễn dịch tốt.” Chúng ta không biết kết quả “tốt” là gì, nhưng BS Trần Tịnh Hiền cho biết thêm“Trước đây, đã có vắc-xin uống ngừa bệnh tả do BS Đặng Đức Trạch, nguyên viện phó Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương nghiên cứu. Loại vắc-xin này đã từng được công bố trên y văn thế giới từ năm 1996, đạt hiệu quả ngừa bệnh là 65%.”

Sự thật: Cả hai phát biểu đều không chính xác.  Bài báo của giáo sư Đặng Đức Trạch và các đồng nghiệp ngoại quốc được công bố trên tập san Lancet vào năm 1997 (chứ không phải 1996), và qua thử nghiệm tại Huế trên gần 134.453 người vắc-xin có khả năng ngăn ngừa 66% đến 68% trường hợp bệnh tả do vi khuẩn V. cholerae El Tor gây bệnh (chứ không phải 65%) [5].

9.  Thông tin từ Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Trong thời đại internet, bạn đọc cũng như chúng tôi có thể nghĩ rằng trong lúc bệnh bộc phát như hiện nay, các cơ quan trung ương được giao nhiệm vụ theo dõi và quản lí bệnh truyền nhiễm nước ta phải có đầy đủ thông tin trên mạng.  Nhưng trong quá trình tìm thông tin, chúng tôi hầu như không có được thông tin nào từ các cơ quan chức năng của Nhà nước.  Hoàn toàn không.  Tất cả thông tin chúng tôi có được là qua báo chí Việt Nam trên mạng, còn y văn và thông tin quốc tế chúng tôi phải nhờ đến các đồng nghiệp từ nước ngoài cung cấp. 

Trang web của Bộ Y tế (www.moh.gov.vn) chỉ có thông tin từ các nguồn khác từ … báo chí.  Thật vậy, chúng tôi ngạc nhiên khi thấy bản tin từ báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động, Người lao động, Dân trí, v.v… được đăng trên trang web.  Ở đây có một sự trớ trêu, thay vì là nơi sản xuất thông tin, Bô Y tế lại là nơi nhận thông tin! 

Còn Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương?  Trong suốt từ 1/11 đến hôm nay (16/11) chúng tôi ghé vào trang web của Viện và tìm phần “Giám sát và phòng chống dịch bệnh” thì chỉ thấy một trang web mà phía bên trái là những hình nhảy nhót, còn phần nội dung thì là một tờ mản ảnh … trắng.  Trống trơn!

 

Hình chụp trang web của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương ngày 16/11/08.

10.  Bài học

Trong một bài viết trên Vietnamnet, tác giả Hồ Thị Hồng Nhung (Viện Pateur TP HCM) kêu gọi “Bệnh tả: Cần người phát ngôn trước công chúng”.  Chúng tôi chỉ có thể nói đồng ý “trăm phần trăm”.  Nhưng chúng tôi muốn thêm rằng quan trọng hơn, chúng ta cần những thông tin chính xác, có nguồn gốc, và nếu được, mang tính khoa học.

Tài liệu tham khảo:

[1]  Qui ước WHO về bệnh tả có thể tìm thấy trên trang web của WHO www.who.int.  Tài liệu lược trích dịch từ WHO guidance on formulation of national policy on the control of cholera, WHO/CDD/SER/92.16 REV.1

[2] Kelly-Hope LA, Alonso WJ, Thiem VD, Anh DD, Canh do G, Lee H, Smith DL, Miller MA. Geographical distribution and risk factors associated with enteric diseases in Vietnam. Am J Trop Med Hyg. 2007 Apr;76(4):706-12.

[3] Vu DT, et al. Coverage and costs of mass immunization of an oral cholera vaccine in Vietnam. J Health Popul Nutr. 2003 Dec;21(4):304-8.

[4] Anh DD, et al.  Safety and immunogenicity of a reformulated Vietnamese bivalent killed, whole-cell, oral cholera vaccine in adults. Vaccine. 2007 Jan 22;25(6):1149-55.

[5] Trach DD, et al. Field trial of a locally produced, killed, oral cholera vaccine in Vietnam. Lancet. 1997 Jan 25;349(9047):231-5.

 

[../../include/content.htm]

 

[../../include/right.htm]

 

[../../include/bottom.htm]