www YKHOANET

Y HỌC PHỔ THÔNG

Cấp cứu

Sức khỏe trẻ em

Sức khỏe người cao tuổi

Sức khỏe phụ nữ

Cao huyết áp

Bệnh thường gặp

Khớp

Huyết học

Tai mũi họng

Tâm thần

Răng hàm mặt

Bệnh mắt

Pháp y

Thẩm mỹ

Kỹ thuật y khoa

Da liễu

Hỏi đáp sức khỏe

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIỚI TÍNH

Nghiên cứu t́nh dục học

Thắc mắc biết hỏi ai

Giới tính

Sách giáo dục giới tính

Sức khỏe t́nh dục

Tṛ chuyện về t́nh dục

HIV/AIDS

Bệnh của cơ quan sinh dục

 

SÁCH THAM KHẢO

260 bệnh tật trẻ em

Bác sĩ vui tính

Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm

Giấc ngủ trẻ em

Sức khỏe phụ nữGiải phẫu thẩm mỹ

 

 

Những ngộ nhận danh xưng tốn kém

Nguyễn Văn Tuấn

Tuần qua, Tuổi trẻ đưa tin về một giáo sư ở Hà Nội được bầu là một trong những “bộ óc vĩ đại” của thế kỉ 20 và tiểu sử của ông được đưa vào một cuốn từ điển danh nhân thế giới.  Trước đó một tuần, báo Giáo dục và Thời đại đưa tin một giáo sư cũng ở Hà Nội được tăng danh hiệu “nhà khoa học lỗi lạc của thế kỉ 20” và tên tuổi ông cũng được đưa vào quyển từ điển danh nhân thế giới.  Trong ṿng vài năm trở lại đây, có nhiều nhà khoa học hoặc được kết nạp vào New York Academy of Science (Viện hàn lâm khoa học New York), hoặc đề cử có tên trong các từ điển danh nhân loại “Who is Who”.  Cố nhiên các nhà khoa học này có ít nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học, nhưng việc họ có tên trong các từ điển danh nhân hay được phong tặng những danh hiệu to lớn như thế có thực sự là một vinh dự, hay phản ánh tầm cỡ vĩ đại của nhà khoa học, hay là nạn nhân của những chiêu thức tiếp thị tinh vi của các công ti chuyên kinh doanh tiểu sử?  Đây là một vấn đề cần xem lại cẩn thận.  Trong bài viết này, tôi sẽ tŕnh bày một số thông tin liên quan để bạn đọc lượng xét.

            Sản phẩm quan trọng số 1 của một nhà khoa học là những bài báo khoa học được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế (thường là tập san chuyên môn), hay những bằng phát minh được công nhận cấp bản quyền (patent).  Những bài báo hay bằng phát minh là một “chứng chỉ” về cống hiến tri thức và ư tưởng cho thế giới của nhà khoa học.  Có công th́ có thưởng: với những đóng góp tri thức, nhà khoa học có cơ hội thăng chức trong guồng máy khoa bảng, hay được đồng nghiệp trên thế giới biết đến và ghi nhận đóng góp. 

Tùy theo tầm quan trọng của những góp vào khoa học, h́nh thức ghi nhận có thể là nhà khoa học được mời giảng dạy và giữ các chức vụ trọng yếu trong một hiệp hội chuyên môn, hay được trao một giải thưởng cao quí nào đó.   Nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu vừa qua được trao giải Cray và được mời đi giảng nhiều nơi trên thế giới v́ một đóng góp quan trọng của anh trong toán học.  Với một cống hiến xuất sắc có giá trị lâu dài, nhà khoa học có thể được đồng nghiệp đề cử nhận giải Nobel, hay được tiến cử vào các tổ chức khoa học cấp cao như viện hàn lâm khoa học.  Nhà vật lí lừng danh Albert Einstein và nhà sinh học James Watson (người phát hiện DNA) vừa là những người từng được giải Nobel, vừa là những thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Ḱ (The National Academy of Sciences of The USA).  

Phân biệt thật và giả: tên gọi

Nhưng cần phải phân biệt những viện hàn lâm khoa học thật và những cơ sở kinh doanh núp dưới danh hiệu “viện hàn lâm khoa học”. 

Nói một cách nôm na và tượng h́nh, viện hàn lâm khoa học “thật” là một văn bằng tốt nghiệp đại học cho một nước, và là một biểu tượng cho một nền khoa học đă trưởng thành.  Ở các nước có nền kinh tế và khoa học phát triển cao như Mĩ, Anh Quốc, Pháp, Úc, Thụy Điển, Nga (và Liên Xô cũ), Trung Quốc, v.v... đều có một viện hàn lâm khoa học.  Ở Nga, Viện hàn lâm khoa học (Russian Academy of Science) được thành lập từ năm 1724 là một trong những trung tâm khoa học danh tiếng thế giới, với nhiều thành viên từng được giải Nobel.  Ở Trung Quốc, Viện hàn lâm khoa học (Chinese Academy of Science) hoạt động từ năm 1949 cũng là một cái “nôi” khoa học và có uy tín trên trường quốc tế. 

Ở Mĩ, sau cả trăm năm lập quốc và đạt được nhiều thành tựu giáo dục đáng kể, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Ḱ được thành lập vào năm 1863; ở Úc, măi đến năm 1954 Viện Hàn lâm Khoa học Úc (Australian Academy of Science) mới ra đời sau khi Úc đă có hai nhà khoa học chiếm giải Nobel về y khoa.  Hội Hoàng gia (The Royal Society) của Anh Quốc, hay Hoàng gia Hàn lâm viện (Royal Academy of Sciences, cơ quan có chức năng tuyển chọn người lănh giải Nobel hàng năm) của Thụy Điển cũng được h́nh thành vào thế kỉ 19 khi mà nền khoa học của họ đă ở vào giai đoạn “trưởng thành.”  Đây là những viện lâu đời và có uy tín rất cao trong cộng đồng khoa học quốc tế.

Tuy nhiên, không giống như các viện hàn lâm khoa học Nga và Trung Quốc (nơi mà viện hàn lâm là một trung tâm nghiên cứu có nhiều trung tâm nghiên cứu khác nhau), ở các nước Tây phương như Mĩ, viện hàn lâm không phải là một viện nghiên cứu, cũng không phải là tập hợp các viện nghiên cứu, mà là một đoàn thể hay tổ chức bất vụ lợi có chức năng chính là: (i) cố vấn cho chính phủ các chính sách liên quan tới khoa học và kĩ thuật; và (ii) giáo dục và cổ động quần chúng về khoa học và vai tṛ của khoa học trong xă hội.  Do đó, các viện hàn lâm này thực chất là những hiệp hội độc lập với chính phủ, không nhận kinh phí từ chính phủ, và chính phủ không dính dáng vào việc điều hành.  Các nhà khoa học tự điều hành và kinh phí thường do đóng góp từ tư nhân và của chính các nhà khoa học. 

Ngoài các viện hàn lâm quốc gia lâu đời đó, ở các nước Tây phương c̣n có rất nhiều tổ chức, hội đoàn với danh hiệu “Academy”, như Academy of Learned Socities for the Social Scienes, American Academy of Political and Social Science, Academy of Medicine, Engineering and Science of Texas, National Academy of Engineering, v.v… Đây không phải là viện hàn lâm khoa học, mà là những hội đoàn chuyên môn.  Thay v́ lấy tên là Society hay Association, các nhóm này lấy tên là Academy.  (Cần phải nói thêm rằng danh từ Academy Institute trong tiếng Anh cũng có thể dùng để chỉ một trung tâm huấn luyện cảnh sát (như Police Academy), cơ sở dạy nhảy đầm, cơ sở dạy vơ, tiệm cắt tóc & uốn tóc, v.v…).

Bên cạnh những viện hàn lâm quốc gia và các hội đoàn chuyên môn, ở Mĩ c̣n có rất nhiều nhóm thương mại chuyên môn kinh doanh tên họ hay tiểu sử của các nhà khoa học dưới những cái tên rất khoa học như “Academy” (Viện hàn lâm) hay “Institute” (Viện nghiên cứu).  Các nhóm lâu đời và nổi tiếng trong lĩnh vực kinh doanh này phải kể đến New York Academy of ScienceInstitute of Biography (viện tiểu sử).  Trong thực tế, báo chí Mĩ cho biết nhiều “tổ chức” này chẳng có văn pḥng ǵ đồ sộ cả, phần lớn làm việc trong một văn pḥng với vài ba nhân viên, thậm chí trong nhà chứa xe (garage)!  Đó là chưa kể hàng chục công ti chuyên sản xuất hàng trăm từ điển tiểu sử cho từng bộ môn khoa học khác nhau. 

Những viện hàn lâm giả hiệu này tất nhiên là chẳng được giới khoa học công nhận hay để ư đến, bởi v́ họ không hoạt động cho khoa học mà chỉ là những công ti thương mại thuần túy.  Hàng năm, họ xuất bản hàng trăm cuốn từ “điển danh nhân” như “Who is Who in Engineering”, “Who is Who in Science”, “Who is Who in Medicine”, “Who’s Who in Execxutives and Professionals”, “Who’s Who in California” v.v… Công ti sống nhờ vào tiền niên liễm của những người có tên trong từ điển.  C̣n các “viện hàn lâm” như New York Academy of Science th́ sống nhờ vào tiền đóng góp của thành viên (những người có tên trong đó dưới danh hiệu “member” – hội viên) và dùng tiền của hội viên để đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Phân biệt thật và giả: hoạt động

Qui tŕnh tuyển chọn thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Ḱ cũng giống như cách chọn nhà khoa học để trao giải Nobel.  Mỗi năm hội đồng tuyển chọn gửi thư đến hàng ngàn nhà khoa học khắp nước Mĩ và yêu cầu họ đề cử người xứng đáng.  Những ngưỡi được gửi giấy mời đề cử thường là hội viên của Hàn lâm viện hoàng gia (Royal Academy of Sciences), các nhà khoa học đă từng được tặng giải Nobel, các giáo sư trong các đại học Mĩ.  Sau khi đă có một danh sách các nhà khoa học, hội đồng họp lại và tuyển chọn người để kết nạp vào viện hàn lâm.  Thành viên cũng có thể là người nước ngoài.  Trong số khoảng 1900 thành viên, có khoảng 300 là người mang quốc tịch và làm việc ở nước ngoài.  Chưa có một người Việt Nam nào là thành viên của Viện hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Ḱ.  Và theo tôi biết cũng chưa có một người Việt Nam nào là thành viên của các Viện hàn lâm khoa học Úc, Anh hay Thụy Điển.

Không giống như cách làm việc nghiêm chỉnh trên, các công ti kinh doanh tiểu sử dựa vào một nguyên lí kinh doanh đơn giản là tận dụng tâm lí “phải có danh ǵ với núi sông” (tạm mượn lời của cụ Nguyễn Công Trứ) của nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ hay mới bước vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, để kinh doanh.  Nhà khoa học nào cũng có một chút chủ quan rằng công tŕnh của ḿnh là quan trọng, và tên tuổi ḿnh đáng lưu danh với đời.  Cho nên, trước những dạm hỏi và chào đón nồng nhiệt của các công ti này, nhất là xuất hiện dưới danh hiệu “viện hàn lâm”, nhà khoa học khó mà vượt qua những cám dỗ ngọt ngào này.

Cách thức kinh doanh kinh doanh của họ rất đơn giản.  Hàng năm, họ tra cứu các tập san khoa học quốc tế, t́m tên tác giả của các bài báo khoa học, rồi rà soát lại xem có phải đây là những tác giả mới xuất hiện, hay là những tác giả đă “có tên tuổi”.  Tùy vào vai vế của tác giả, họ gửi cho từng tác giả một lá thư đại ư cho biết tác giả đă được một hội đồng khoa học b́nh bầu là nhà khoa học xuất sắc trong năm, là nhà khoa học lỗi lạc của thế kỉ, là bộ óc vĩ đại của thế giới, là có cống hiến quan trọng cho khoa học, v.v… Nói tóm lại họ dùng toàn những danh xưng rất ấn tượng để làm cho tác giả thích thú và tưởng ḿnh là một nhà khoa học vĩ đại hay công tŕnh của ḿnh có tầm vóc thế kỉ.  Chẳng những gửi thư, có công ti c̣n gửi cả một bằng chứng nhận mẫu với tên của tác giả được in trên giấy bóng màu mè cực ḱ đẹp mắt và rất hấp dẫn.  Họ không quên kèm theo một mẫu đặt hàng với các ô vuông để tác giả ghi vào đó số thẻ tín dụng (credit card).  Giá cả thường khoảng 200 USD đến 500 USD, tùy theo danh hiệu và từ điển được bọc b́a da hay b́a giấy cứng.  Khi đă trả tiền qua thẻ tín dụng, tác giả chờ khoảng 6 tháng (để họ in từ điển) để có những “chứng từ” ấn tượng đó.  Nhưng giá trị của nó chỉ 1 năm mà thôi.  Nếu năm tới tác giả muốn có tên ḿnh trong từ điển nữa hay muốn duy tŕ thành viên của “viện hàn lâm” th́ phải đóng thêm tiền.  Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành “viện sĩ” một năm nếu họ chịu trả tiền.

“Viện sĩ” có phải là một danh dự?

Đối với phần đông quần chúng, cụm từ “viện hàn lâm” đồng nghĩa với nơi tập trung của những bộ óc siêu việt, những con người thông thái nhất của một quốc gia.  Nhưng trong thực tế ở các nước có nền khoa học tiến bộ cao như Mĩ th́ điều này chỉ đúng một phần, v́ như nói trên, viện hàn lâm chỉ là một đoàn thể, là một cơ quan đại diện [có thể là cao nhất] cho các nhà khoa học.

V́ là đoàn thể, nên có người thích tham gia và có người không thích tham gia.  Trong số khoảng 350 nhà khoa học và xă hội Mĩ đoạt giải Nobel, chỉ có 170 người là thành viên của Viện này.  Đă có nhiều người cho rằng Viện hàn lâm chỉ là một câu lạc bộ kín ("close club") của các vị có tuổi, nơi mà chỉ có các nhà khoa học quen biết với nhau qua giao thiệp xă giao, hơn là một cơ quan đại diện chân chính cho các nhà khoa học.  Thành ra, nhiều nhà khoa học lớn, những người tự coi họ là làm khoa học loại "thứ thiệt" (hard-core scientists), những người không thích hư danh hay ồn ào trên các hệ thống truyền thông, th́ không thích có mặt trong Viện này.  Nhà vật lí học danh tiếng Richard Feynman – cũng như nhiều nhà khoa học lừng danh khác – không phải là thành viên của một viện hàn lâm nào cả.

Danh xưng “Viện sĩ” (Academician) có lẽ xuất phát từ truyền thống khoa bảng ở các nước Đông Âu cũ, nơi mà viện sĩ là những nhà khoa học xuất sắc được tuyển chọn b́nh bầu một cách nghiêm chỉnh.  Cả nước Trung Quốc chỉ có 14 viện sĩ trong ngành khoa học máy tính.  Tuy nhiên, truyền thống dùng danh xưng viện sĩ trước tên tuy vẫn c̣n tồn tại, nhưng số người dùng th́ không bao nhiêu, nếu không muốn nói là rất hiếm.  Ngược lại, ở các nước Tây phương như Mĩ, Anh và Pháp chẳng hạn, không một thành viên nào của viện hàn lâm khoa học dùng danh xưng “Academician” trước tên ḿnh.  Một số có dùng th́ chỉ dùng sau học vị của họ (như John Smith, PhD, FAAS –viết tắt của chữ Fellow of the Australian Academy of Science), và chỉ dùng trong các công văn, chứ không bao giờ trên báo chí kiểu “Academician John Shine” cả.  Điều này cũng đơn giản, bởi v́ danh xưng “viện sĩ” không phải là một chức danh khoa học, cũng chẳng phải là một đẳng cấp khoa bảng. 

Trong cộng đồng nghiên cứu khoa học, các viện hàn lâm dỏm như New York Academy of Science hay Institute of Biography không có một uy tín ǵ cả.  Để nhấn mạnh, xin lặp lại cho rơ: không có một uy tín ǵ cả.  Do đó, thành viên của Viện hàn lâm khoa học New York không phải là một danh dự, càng không phải là một chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học.  Thành viên của các “viện” này chẳng ai dám dùng chữ “viện sĩ” trước tên ḿnh.  Thực ra, ngược lại là đằng khác: các nhà khoa học nào liệt kê trong lí lịch ḿnh là thành viên các nhóm này thường được đánh giá là ngây thơ trong trường khoa học.

Thế nhưng tiếc thay, rất nhiều nhà khoa học Việt Nam trong những năm gần đây hồ hởi tham gia vào các công ti kinh doanh này, và tự hào gắn thêm danh hiệu “viện sĩ” trước học vị và tên ḿnh!  Có vị c̣n in trên danh thiếp danh hiệu “Academician”!  Đối với giới khoa học “thứ thiệt” ở phương Tây, cái danh hiệu đó không chỉ là một chuyện tiếu lâm, mà c̣n nói cho họ biết tác giả của nó chỉ là một người c̣n quá ấu trĩ trong trường khoa học.

Tránh thêm ngộ nhận và tốn tiền!

Các công ti kinh doanh tiểu sử và viện hàn lâm dỏm đă khá thành công trong thị trường các nước Tây phương một thời gian, đến khi giới khoa học biết được chân tướng thật của họ.  Hiện nay, các nước Tây phương không c̣n là thị trường kinh doanh của họ nữa, cho nên họ phải t́m một thị trường mới.  Đối với họ, các nước Đông Âu, Á châu và Phi châu là thị trường béo bở, bởi v́ giới làm khoa học ở đây thiếu thông tin.  Thiếu thông tin dễ dẫn đến ngộ nhận và tốn kém.

Thử tưởng tượng một người làm khoa học ở Việt Nam có vài bài báo công bố trên một tập san khoa học của Mĩ, một ngày đẹp trời nào đó nhận được thư từ một ông viện trưởng viện hàn lâm trịnh trọng báo cho hay là ḿnh đă được kết nạp vào viện hàn lâm.  Cái giây phút đó ắt phải là một thời điểm măn nguyện lắm chứ, bởi v́ công tŕnh ḿnh phấn đấu bao năm nay đă được ghi nhận!  C̣n 300 USD để được kết nạp vào viện và có tên trong từ điển danh nhân?  Ôi, có là bao.  Tiếng quan trọng hơn tiền!  Ngày xưa các vị tiến sĩ có tên trên bia đá ở Quốc tử giám, th́ ngày nay ta có tên trong đại từ điển danh nhân.  Đó là một tâm lí cực ḱ thuận tiện cho các công ti thương mại Mĩ.

 

 


Ư kiến của bạn

Vui ḷng gơ tiếng Việt có dấu hoặc soạn thảo trên Word và copy vào ô nội dung.

Họ tên  
Email  
Nội dung  
 

 

 

Loạn...xét nghiệm
Bệnh viện Nhi Đồng Nai làm "khó" bệnh nhân?
Ám ảnh “nhà vệ sinh bệnh viện”
"Đạo chích" hoành hành tại Bệnh viện đa khoa Quảng Ngăi
Hỗn loạn tại pḥng khám Bệnh viện Nhân dân 115
Sao không mổ cấp cứu cho tôi?
Gây mê nhầm bệnh nhân, một người suưt tử vong
Bệnh nhân chết trên bàn mổ v́... tuột ống nội khí quản
Chẩn đoán viêm ruột thừa chậm, bệnh nhi tử vong
Một bệnh viện “đe dọa” tính mạng bệnh nhân
Hệ thống cấp cứu TPHCM đầy “lỗ hổng”!
Là bệnh nhân... mới biết đau!
Sở y tế bạc liêu: Dựng “kịch bản” để moi tiền tỉ của Nhà nước
Một cháu bé rơi từ lầu 4 bệnh viện xuống đất
Bệnh nhân bị cắt nhầm dạ dày đang nguy kịch
Bệnh viện Việt Pháp mổ dạ dày cho bệnh nhân bị sỏi mật
Phẫu thuật thẩm mỹ trái phép gây chết người
Nghe nói rằng
Nước thải bệnh viện ở TPHCM Vẫn
Hà Nội: Đủ các kiểu lừa từ… “c̣” viện!
Đơn thuốc... đọc không ra!
Sở y tế Bạc Liêu: Mua hàng với giá “trời ơi”!
Vụ bệnh nhân chết tại pḥng mổ Bệnh viện Lao và bệnh phổi TW: Trách nhiệm ở đâu?
Cơ sở vật chất bệnh viện Báo động xuống cấp, quá tải
Quên gửi nắp hộp sọ của bệnh nhân
Những ngộ nhận danh xưng tốn kém
Hải Pḥng: kỷ luật 8 bác sĩ v́ chậm trễ chữa trị cho bệnh nhân
Những kiểu chuyển viện chết người
Bệnh viện đa khoa B́nh Thuận: Một công tŕnh lớn mang tư duy... nhỏ
Chời ơi!
Cái toa thuốc
Bỏ quên bông g̣n trong đầu bệnh nhân!
'Bệnh' lạm dụng siêu âm
Huyết áp thấp và huyết áp cao
Ứng dụng phần mềm thống kê y tế y tế MEDISOFT 2003 - 1 năm nh́n lại
Thông tin phản hồi của cty Link Toàn Cầu về phần mềm MEDISOFT 2003

 

BS PHAN XUÂN TRUNG

"Lăng tử giữa thương trường"


 WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.



Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET 2005

ASP.NET - Unicode - Web based
HIS - RIS/PACS - LIS - DIS - HL7 - DICOM - IDC10
E-prescribing
E-Patient-Record

QUẢN LƯ CHUYÊN MÔN

Quản lư viện phí

Toa thuốc thông minh

Chẩn đoán h́nh ảnh

Quản lư xét nghiệm

Bệnh án điện tử

Quản lư dược bệnh viện

Quản lư quầy thuốc tây

QUẢN LƯ HÀNH CHÁNH

QL nhân sự - tiền lương

QL vật tư - trang thiết bị

QL tài chánh - kế toán

Báo cáo - giám sát

 

 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000 - Năm thứ Tư.

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

 In trang này     Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net